Nguồn lực Chương trình 1719 tạo chuyển biến từ cơ sở

04:01 PM 03/08/2026 |   Lượt xem: 8 |   In bài viết | 

Hệ thống giao thông thôn, bản tại xã Bắc Hà, tỉnh Lào Cai được đầu tư từ nguồn lực Chương trình 1719 góp phần cải thiện điều kiện đi lại, sản xuất và lưu thông hàng hóa

Chuyển biến được đo bằng đời sống người dân

Tỉnh Lào Cai sau hợp nhất có diện tích hơn 13.256 km², dân số gần 1,78 triệu người. Trên 1 triệu người là đồng bào dân tộc thiểu số, chiếm 60,9% dân số toàn tỉnh. Trong 99 đơn vị hành chính cấp xã, có 95 xã thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; 47 xã khu vực III. Toàn tỉnh có 2.438 thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, trong đó 1.033 thôn đặc biệt khó khăn.

Quy mô địa bàn và sự phân tán dân cư khiến suất đầu tư hạ tầng ở vùng cao thường lớn, trong khi khả năng tiếp cận các dịch vụ cơ bản giữa các địa phương còn chênh lệch. Trong bối cảnh đó, kết quả của Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025 (Chương trình 1719) không chỉ thể hiện ở số vốn đã bố trí, mà trước hết ở những thay đổi trực tiếp trong đời sống.

Theo UBND tỉnh Lào Cai, ước đến đầu tháng 7/2026 có 23/32 chỉ tiêu dự kiến đạt hoặc vượt mục tiêu cả giai đoạn. Tỷ lệ xã có đường ô tô đến trung tâm được rải nhựa hoặc bê tông đạt 100%; tỷ lệ thôn có đường ô tô đến trung tâm được cứng hóa đạt 90%; tỷ lệ xã có trạm y tế được xây dựng kiên cố đạt 98%.

Khả năng tiếp cận điện và nước sinh hoạt cũng được cải thiện. Tỷ lệ hộ dân sử dụng điện lưới quốc gia và các nguồn điện phù hợp ước đạt 99%; tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh ước đạt 98,6%. Thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số năm 2025 ước đạt trên 33 triệu đồng/người/năm, gấp khoảng hai lần so với đầu kỳ.

Tổng nguồn vốn ngân sách trung ương thực hiện Chương trình giai đoạn 2021-2025 trên địa bàn tỉnh là hơn 6.309 tỷ đồng, đã giải ngân gần 5.423 tỷ đồng, đạt 85,96%. Trong đó, vốn đầu tư phát triển đạt 96,9%, còn vốn sự nghiệp đạt 72,6%. Khoảng cách này cho thấy bên cạnh kết quả rõ nét về hạ tầng, các hoạt động hỗ trợ trực tiếp cho con người, cộng đồng và sinh kế vẫn cần được thúc đẩy mạnh hơn.

Những con số đó được tạo nên từ nhiều công trình, dự án và mô hình hỗ trợ tại cơ sở. Tính đến hết năm 2024 trên địa bàn tỉnh Lào Cai trước hợp nhất, Chương trình đã đầu tư hơn 366 công trình hạ tầng như điện, đường, trường học, trạm y tế; hỗ trợ xây dựng 27 công trình cấp nước sinh hoạt tập trung và cấp téc nước, ống dẫn nước cho trên 8.000 hộ dân. Các mô hình trồng dược liệu, chăn nuôi gia súc, gia cầm, bảo tồn làng bản văn hóa gắn với du lịch cộng đồng đã mở thêm hướng phát triển sản xuất và tạo sinh kế.

Bà con các dân tộc tại huyện Bát Xát nhận hỗ trợ téc nước từ nguồn vốn Chương trình 1719

Kết quả lớn nhưng chưa đồng đều

Bên cạnh 23 chỉ tiêu dự kiến đạt hoặc vượt, tỉnh Lào Cai xác định 8 chỉ tiêu khó hoàn thành, gồm tỷ lệ xã, thôn ra khỏi địa bàn đặc biệt khó khăn; tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số được xem truyền hình, nghe đài; giải quyết đất ở, đất sản xuất; tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế và sắp xếp, ổn định dân cư. Nội dung hỗ trợ chuyển đổi nghề còn tiếp tục thực hiện trong năm 2026.

Khoảng cách giữa kết quả chung của tỉnh với nhu cầu cụ thể ở từng địa bàn vẫn khá lớn. Một số khu vực vùng cao còn thiếu nước vào mùa khô; điện lưới chưa ổn định; công trình hạ tầng bị ảnh hưởng bởi lũ quét, sạt lở. Chỉ trong 6 tháng đầu năm 2026, thiên tai đã ảnh hưởng tới 6.701 nhà ở, hơn 1.190 ha sản xuất nông nghiệp cùng nhiều công trình hạ tầng thiết yếu trên địa bàn tỉnh.

Hiệu quả của các dự án hỗ trợ phát triển sản xuất cũng chưa đồng đều. Nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã chủ trì liên kết có quy mô nhỏ, thị trường chưa ổn định; quy trình thẩm định kéo dài có lúc không theo kịp thời vụ. Liên kết giữa chủ trì dự án với người dân còn thiếu ràng buộc, trong khi một bộ phận cộng đồng chưa phát huy đầy đủ vai trò chủ thể trong xây dựng và tổ chức thực hiện dự án.

Đáng chú ý, cơ cấu dự kiến của Hợp phần thứ hai giai đoạn 2026-2030 đang nghiêng nhiều về hạ tầng. Trong 103 dự án do tỉnh đề xuất, có 94 dự án đầu tư xây dựng, hoàn thiện cơ sở hạ tầng đặc thù; chỉ 9 dự án thuộc nhóm hỗ trợ phát triển sản xuất, tạo sinh kế và nâng cao thu nhập, với nội dung tập trung vào bảo tồn văn hóa gắn với du lịch.

Điều này đặt ra yêu cầu phải tiếp tục đầu tư công trình thiết yếu nhưng không “hạ tầng hóa” mục tiêu phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Con đường, trường học hay công trình nước chỉ thực sự phát huy giá trị khi gắn với sinh kế, việc làm, khả năng tiếp cận thị trường và năng lực tự vươn lên của người dân.

Bước vào giai đoạn mới bằng thước đo thực chất

Kết quả của Chương trình 1719 là nền tảng để Lào Cai bước vào giai đoạn mới với mục tiêu cao hơn. Mục tiêu giai đoạn 2026-2030 của tỉnh đặt ra định hướng nâng thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số từ 33 triệu đồng lên 60 triệu đồng/người/năm; phấn đấu cơ bản không còn xã, thôn đặc biệt khó khăn; tiếp tục cải thiện nhà ở, sắp xếp dân cư, nước sinh hoạt, điện, giao thông và dịch vụ số.

Để mục tiêu đó khả thi, danh mục đầu tư cần được sắp xếp theo mức độ thiếu hụt và số người hưởng lợi, ưu tiên 47 xã khu vực III, 1.033 thôn đặc biệt khó khăn, địa bàn biên giới và khu vực có nguy cơ cao về sạt lở, lũ quét. Mỗi dự án phải xác định rõ đầu ra, đối tượng thụ hưởng, phương án vận hành, nguồn kinh phí bảo trì và tác động trực tiếp tới thu nhập, mức sống.

Kinh nghiệm giai đoạn vừa qua cho thấy, nơi nào cấp ủy, chính quyền vào cuộc quyết liệt, cơ quan chuyên môn bám sát hướng dẫn của Trung ương, thường xuyên kiểm tra, tháo gỡ vướng mắc, người dân được biết, được bàn và tham gia giám sát thì nơi đó nguồn lực phát huy hiệu quả rõ hơn. Trong 6 tháng đầu năm 2026, Sở Dân tộc và Tôn giáo đã thành lập các đoàn, tổ công tác kiểm tra, rà soát công tác chuẩn bị tại 16 xã trọng điểm, qua đó hướng dẫn cơ sở nhận diện sớm khó khăn về danh mục, hồ sơ, đối tượng thụ hưởng và tiến độ thực hiện.

Vì vậy, chặng đường tiếp theo của Chương trình 1719 tại Lào Cai cần được đánh giá không chỉ bằng số công trình hoàn thành hay tỷ lệ vốn đã giải ngân. Thước đo cuối cùng phải là số hộ dân có nước sạch, điện ổn định, đường đi thuận lợi; số việc làm và sinh kế được tạo ra; thu nhập được cải thiện và mức độ hài lòng của người dân ở những địa bàn khó khăn nhất.

Xuân Thường