Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện
04:24 PM 26/10/2026 | Lượt xem: 108 In bài viết |Ban Chấp hành Trung ương Đảng vừa ban hành Nghị quyết số 31-NQ/TW ngày 15/10/2026 Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Theo đó, thực tiễn gần một thế kỷ cách mạng Việt Nam khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng; năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng gắn liền với vận mệnh của đất nước, của chế độ và hạnh phúc của Nhân dân.
Nghị quyết khẳng định, xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện là nhiệm vụ then chốt, thường xuyên, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng, chế độ và sự nghiệp phát triển đất nước.
Qua các nhiệm kỳ, nhất là từ Đại hội XI đến nay, nhận thức và thực tiễn về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị không ngừng được bổ sung, phát triển; kết hợp ngày càng chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, giữa giáo dục, rèn luyện với giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương và kiểm soát quyền lực; chuyển mạnh từ xử lý vi phạm sang chủ động phòng ngừa, cảnh báo từ sớm, từ xa.
Công tác xây dựng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ được đẩy mạnh đồng bộ; đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí tiêu cực được thực hiện quyết liệt, không có vùng cấm, không có ngoại lệ; góp phần củng cố niềm tin Nhân dân, giữ vững ổn định chính trị - xã hội.
Nghị quyết xác định các mục tiêu cụ thể, việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện là nhiệm vụ then chốt, thường xuyên, quyết định thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới. Kiên định vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng.
Xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, đồng bộ, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, gần dân, sát dân, phục vụ Nhân dân và sự phát triển đất nước. Không ngừng đổi mới tư duy, phát triển lý luận, tổng kết thực tiễn, nâng cao năng lực dự báo và kiến tạo tầm nhìn dài hạn. Đặt lợi ích quốc gia – dân tộc là trên hết, trước hết; kiên quyết khắc phục tư duy nhiệm kỳ, cục bộ và “lợi ích nhóm”.
Giữ vững nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương của Đảng; mọi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên phải hoạt động trong khuôn khổ Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, Hiến pháp và pháp luật.
Quán triệt sâu sắc quan điểm “Dân là gốc”. Xây dựng Đảng phải vì Nhân dân, dựa vào Nhân dân và chịu sự giám sát của Nhân dân. Mọi chủ trương, quyết sách và hoạt động của hệ thống chính trị phải hướng tới quốc gia – dân tộc, cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của Nhân dân; phát huy dân chủ và quyền làm chủ của Nhân dân.
Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng công tác cán bộ là “then chốt của then chốt”; con người là trung tâm của mọi đổi mới trong công tác xây dựng Đảng. Kiên định nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác cán bộ; đánh giá, bố trí, sử dụng, sàng lọc cán bộ phải dựa vào phẩm chất, thực tài, uy tín, sản phẩm và kết quả.
Nghị quyết nhấn mạnh 4 định hướng trọng tâm: Nâng tầm năng lực tự đổi mới, tự chỉnh đốn, tự hoàn thiện thường xuyên của Đảng; Nâng cao trách nhiệm gắn với thẩm quyền và kết quả; Hoàn thiện đồng bộ cơ chế phân công, phân cấp, phân quyền, kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình; Nâng tầm và đưa các giá trị, chuẩn mực đạo đức cách mạng, văn hóa của Đảng thấm sâu vào thực tiễn lãnh đạo, cầm quyền.
Mục tiêu tổng quát là tạo chuyển biến mạnh mẽ, thực chất, toàn diện và bền vững trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh toàn diện. Đồng thời, nâng cao năng lực tự đổi mới, tự chỉnh đốn, tự hoàn thiện; chủ động phòng ngừa từ sớm, từ xa các biểu hiện suy thoái, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; kiểm soát chặt chẽ quyền lực, đề cao trách nhiệm, khuyến khích đổi mới, sáng tạo vì lợi ích chung.
Đến năm 2030, tạo chuyển biến rõ rệt về năng lực tự phòng ngừa, tự phát hiện, tự sửa chữa; khắc phục căn bản tình trạng khuyết điểm chậm sửa, lặp lại. Mỗi nhiệm vụ trọng tâm được xác định rõ chủ trì, trách nhiệm, thời hạn, sản phẩm; khắc phục tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm. Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, trách nhiệm, dám đổi mới, dám hành động vì lợi ích chung.
Tầm nhìn đến năm 2045, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh toàn diện; có năng lực tự đổi mới, tự chỉnh đốn, tự hoàn thiện, lãnh đạo, cầm quyền khoa học, hiện đại. Hệ thống chính trị vận hành dân chủ, kỷ cương, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; quyền lực được kiểm soát chặt chẽ, liêm chính trở thành chuẩn mực; Đảng gắn bó mật thiết với Nhân dân, đủ sức lãnh đạo đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Nghị nguyết xác định 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, cụ thể:
Thứ nhất, nâng cao năng lực tự đổi mới, tự chỉnh đốn, tự hoàn thiện; tăng cường xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức. Nghị quyết yêu cầu nâng cao năng lực tự phê bình và phê bình, tự soi, tự phát hiện, tự sửa, tự hoàn thiện từ bên trong mỗi tổ chức đảng và từng cán bộ, đảng viên. Mỗi hạn chế, khuyết điểm phải chỉ rõ nguyên nhân, xác định trách nhiệm cụ thể, biện pháp và thời hạn khắc phục, có kiểm chứng kết quả. Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh; lấy kết quả thực hiện chức trách, tinh thần phục vụ Nhân dân và kết quả khắc phục khuyết điểm làm thước đo.
Thứ hai, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, chất lượng chủ trương, quyết sách và hiệu quả tổ chức thực hiện. Ngay từ khi đề xuất chủ trương, quyết sách phải xác định rõ vấn đề cần giải quyết, kết quả cần đạt được, cơ quan chịu trách nhiệm chính, thẩm quyền, nguồn lực, thời hạn và cơ chế kiểm tra, giám sát, đánh giá. Việc không hoặc chậm trễ ra quyết định, né tránh việc thuộc thẩm quyền, để công việc trì trệ hoặc làm mất thời cơ đều phải giải trình và chịu trách nhiệm. Đẩy mạnh cải cách hành chính và chuyển đổi số trong Đảng, tinh giản hội họp, giấy tờ, báo cáo hình thức, trùng lặp.
Thứ ba, xây dựng Đảng thật sự là đạo đức, là văn minh trên nền tảng văn hóa lãnh đạo, văn hóa cầm quyền và văn hóa liêm chính. Gắn kết chặt chẽ xây dựng Đảng về đạo đức với đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền; chuyển hóa các giá trị vì nước, vì dân, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, trung thực, nêu gương thành chuẩn mực bắt buộc trong ứng xử, ra quyết định, sử dụng quyền lực và kỷ luật thực thi công vụ. Hiện đại hóa quản trị tổ chức, cán bộ và nguồn lực; làm chủ công nghệ số, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo.
Thứ tư, tiếp tục hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; nâng cao sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng cán bộ, đảng viên. Tiếp tục hoàn thiện tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, đồng bộ, liên thông, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; kịp thời rà soát, tháo gỡ vướng mắc sau sắp xếp. Đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp ủy, sinh hoạt chi bộ; mọi vấn đề phải được thảo luận và đi đến kết luận, phân công, thời hạn và kiểm tra kết quả. Đổi mới đánh giá cán bộ, đảng viên theo hướng thường xuyên, đa chiều, thực chất, dựa trên phẩm chất, năng lực, sản phẩm và dữ liệu được kiểm chứng.
Thứ năm, thiết lập chế độ trách nhiệm thực chất; phân cấp, phân quyền đi đôi với kiểm soát quyền lực, trách nhiệm giải trình; khuyến khích và bảo vệ cán bộ đổi mới sáng tạo vì lợi ích chung. Phân định rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân, người đứng đầu và các chủ thể tham gia đề xuất, quyết định, tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát. Thực hiện nhất quán nguyên tắc quyền hạn đến đâu, trách nhiệm đến đó; quyền lực càng lớn, trách nhiệm càng cao. Việc bảo vệ cán bộ phải căn cứ động cơ trong sáng, vì lợi ích chung, đúng thẩm quyền và có kiểm soát, không bao che hoặc miễn trừ trách nhiệm.
Thứ sáu, chủ động nhận diện, phòng ngừa, đấu tranh, xử lý nghiêm minh, có hiệu quả suy thoái, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực và những nguy cơ, biểu hiện mới. Chuyển mạnh từ phát hiện, xử lý khi vi phạm đã xảy ra sang chủ động nhận diện, cảnh báo, phòng ngừa từ sớm, từ xa, từ gốc; kết hợp xử lý nghiêm vi phạm với loại bỏ nguyên nhân, điều kiện phát sinh và ngăn ngừa tái diễn. Tăng cường kiểm tra, giám sát chủ động, thường xuyên, tập trung vào lĩnh vực, địa bàn, vị trí có nguy cơ cao.
Thứ bảy, thực sự dựa vào Nhân dân; phát huy dân chủ; tăng cường giám sát, phản hồi và sử dụng thông tin, dữ liệu. Thực hiện thực chất, hiệu quả phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Bảo đảm ý kiến, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của Nhân dân được tiếp nhận, xử lý đến cùng theo thẩm quyền, phản hồi kịp thời, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình của người đứng đầu. Kết hợp thông tin từ nhiều nguồn và dữ liệu quản lý để nhận diện vấn đề, cảnh báo sớm và điều chỉnh kịp thời; sử dụng dữ liệu, công nghệ hỗ trợ lãnh đạo, kiểm tra, giám sát nhưng không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân.
Nghị quyết 31-NQ/TW được phổ biến đến chi bộ.
Hương Huyền

